1/1/08

Đêm giữa trưa ngày cuối thu mà chưa thấy mùa đông (Time)


Nắng trưa chói chang

phòng ngập tràn mui hăng hắc ngai ngái và khói làm cay mắt từ điếu thuốc Zest quen thuộc.

Cảm giác hoang tưởng về màn đêm đen và vỡ vụn (lâu lắm mới lại hoang tưởng), miên man nỗi nhớ, và ...

đêm qua nằm mơ, lâu lắm rồi không mơ, mơ thấy ...

chỉ còn nhớ ánh mặt, khuôn mặt nhạt nhoà trong đêm...

Dạo này hút thuốc nhiều quá, tệ thật.

Thuốc lá không còn an ủi được nữa, không làm vơi đi nỗi nhớ được nữa, không gây hưng phấn và andrenalin cuộn trào trong từng sợi cơ, sôi sục máu tràn trề trong màn đêm quen mà dần trở nên xa lạ ấy.

Rượu cũng thế, giữa cơn say, giữa nhưng lơ mơ bồng bềnh, bóng hình em còn hiện rõ hơn cả giấc mơ đêm qua.

Đêm mơ màng, ta thấy nhịp điệu thời gian gẫy, mơ hồ cảm giác...

êm ái, thư thái, dịu ngọt....

mà có thật mọi thứ đều ngọt ngào như thế không

ko biết nữa, không muốn nghĩ và không thể nghĩ, thôi thì...

thôi thì bẽn lẽn đi

đêm lỡ cỡ, đêm chờ và nhớ...

muốn ngủ mà không sao ngủ được.

Đang hút thuốc mà sao vẫn thèm thuốc thế

màn hình LCD đang phẳng tự nhiên cong veo

lệch lạc quá.

Đêm lọ mọ nhặt những khối đen vỡ

chắp lại thành hình hài

những hình hãi vỡ

màu đen vỡ

khói mỏng manh vỡ

con chữ vỡ

nỗi buồn vỡ

niềm vui vỡ

tôi vỡ vụn cùng màn đêm trong nắng chói chang.

Monday October 23, 2006 - 01:37pm

Requiem for a DREAM (Time)


tôi mơ ánh mắt em trong lần gặp thứ hai, thật ngơ ngác hay dáo dác (lúc em đeo kính), ờ mà hay là em líêc nhìn tôi khi đang lơ đãng bé bỏng trong vòng tay mẹ nhỉ, ờ mà mặc xác những tính từ xa lạ, dớ dẩn và tầm thường đó đi. Tôi mơ em.

tôi tiếp tục mơ em lại những cảm xúc dạt dào em, ngọt ngào em, cái chạm mình nóng bỏng em, đêm lạnh lùng thu em, không gian chết im lìm em, chỉ tiếng tim tôi em, màn đêm vỡ em, hình ảnh tới em, tôi điên em. Tôi mơ em.

tôi mơ mùa thu qua thật nhẹ, dù gió ướt xước tim tôi hai lần, mùa đông đang tới dần, trong gió ầm tràn trề vội vã, những thanh âm keyboard lanh tanh trong đêm tàn chờ sáng, trong màn sương hư ảo của thời gian và không gian vỡ vụn nhão nhét gặp nhau trong màu đen thần thánh. Tôi lại mơ em.

tôi mơ mình say, say trong những giọt nước (dù là nước máy hay nước cống) mà đâu còn phải là nỗi buồn thường trực lúc 5 giờ chiều khi nắng khẽ khọt len lỏi qua khe mành, đậu vào chén, xuyên vỡ nước, tồi cạn trọn nỗi buồn. Nỗi buồn bã lã chã rơi, rơi hêt mất rồi, chỉ còn niềm vui là ở lại, là ở lại, là ở lại. Tôi mơ em.

ngày hôm qua, ngày hôm nay và ngay mai nữa, khác gì nhau? Buồn, mơ màng và hạnh phúc? Ai cầm, ai cản và ai ngăn được tự nhiên, đóng băng, dẫm đạp và lơ đãng? Tôi mơ thấy mình ngơ ngác, dọ dẫm trền con đường màu xanh, lần tìm những cảm xúc, bắt cóc những cảm xúc, nhốt chặt những cảm xúc, vào tim tôi, trên con đường vào tim em. Tôi mỉm cười như thế này này Image. Ngố ơi là ngố. Ngớ và ngẩn. Thơ lẩn thẩn. Tôi mơ em. Image Image

tôi ngố trước mắt em, trong những dòng cảm xúc lãng mạn, trong những câu hỏi bối rối, trong những câu đùa cợt ỡm ờ. Tôi ngẩn trong mắt tôi, thằng con trai 23 tuổi, chập chững, láo liên nhìn đời khinh bạc, đêm dài chìm đắm trong ác mộng và nỗi cô đơn chẳng rõ ràng và miên man trong những điếu thuốc màu trắng. Ngày này qua ngày khác. Nhưng ngày hôm nay khác, ngày mai khác. Sẽ khác. Vì. Tôi đang mơ.

tôi đang phóng sinh mình, thả linh hồn siêu thoát khỏi những khối hình vỡ nát, những mảng màu trắng, đỏ và đen đùa cợt dầy vò trong những giấc mơ. Những giấc mơ lạnh buốt, co quắp, hiển hiện đầy rẫy những xa lạ, ngơ ngác, cô đơn và dần quen thuộc như chẳng thể tách rời. Nhưng như chẳng thể thôi mà. Tôi xa dần những nỗi buồn lơ đãng, những cột điện, mảng tường điệu đàng thăng hoa những "Khoan cắt bê tông" và "Thông tắc bể phốt". Mơ. Đêm nay tôi không mơ. Tôi làm lễ cầu siêu linh hồn tôi ngơ ngác cho giấc mơ buồn vỡ nát thời gian. Tôi mơ về em.

tôi mơ về em.

Tôi

đóng đinh

giấc mơ

về

EM.

Saturday October 14, 2006 - 02:59am

Một ngày (Time)


Đêm

đi ngủ rõ sớm (so với mọi khi), chắc tầm 1am.

Sáng

ngủ thì đồng hồ báo thức kêu, nhắn qua nhắn lại thì nhà có điện. Thân thể định ườn xác lịm tiếp nhưng tâm trí thì phăng phăng kéo dậy ngồi trước PC. Chat.

Trưa

ăn. Ngồi trước PC, chat, spam một đống comment chúc Trung thu (thật là vớ vẩn nhưng rỗi rãi chả biết làm gì) và ngồi đợi. Lúc sau thì sms ngập trời...

... tới Chiều

vẫn chưa về và mưa sms ngừng rơi sau khi mình hỏi 1 câu (chắc khó trả lời quá, hehe). Thôi đi mua tờ TT&VH về đọc phần VH cho hứng. Thực ra thì là muốn dắt xe ra khỏi nhà cho đỡ ngột ngạt. Chứ báo thì chỉ cần đi bộ sang đường là có. Vòng tới cơ quan. Ra quán cầ phê ngồi, sms cho đứa bạn xuống. Blah blah ... blah blah....

về nhà

ăn rồi đi làm tới ...

...Tối

đi làm về, quyết định như mọi khi, đi thẳng đường Phố Lý Thường Kiệt chứ không đi rẽ Phan Huy Chú nữa (đường này dành cho những lúc phải về gấp), đến đầu ngã tư giao với Phan Chu Trinh, châm điếu thuốc Zest quen thuộc, rít một hơi đã đời.

Thích đi đường Phố Lý Thường Kiệt lắm (ngày nào về chả thế, trưa chiều tối luôn) với một lý do duy nhất, đường vắng. Đường phố này khá to, nhưng có điểm rất thích, hai bên nếu không là công sở thì cũng là biệt thự, ngoài ra còn rất nhiều các quán cà phê khá lớn (chủ yếu do mặt bằng rộng). Hôm nay trời lành lạnh, không rõ là Trung thu thì mọi thứ có sáng hơn không bởi cũng chả buồn ngẩng đầu lên trăng sao gì cả, cảm giác ánh đèn đường vàng nhạt vẫn vậy, đủ để nhìn đường và không rõ mặt người. Thường thì những khi chầm chậm lướt qua phố này là lúc tâm trí buông thả, ngẫm nghĩ những ý tưởng đến nhợt nhạt rồi thoáng lướt qua những chùm đèn nhỏ sang sáng của những biển hiệu quán xá mà chẳng bao giờ có thể nhớ tên rồi lao lên cây và hoà tan vào gió, tán lá và bụi. Nhưng phố này cũng có điểm không thích, đó là có hai đoạn cắt với hai con đường một chiều đông đúc lúc nhúc những kiến là kiến (vàng xanh đỏ... lớn bé, thậm chí rất lớn và rất bé đều đủ cả) là Hàng Bài và Bà Triệu. Chán. Tiếp tục đi thẳng. Đường vắng. Nếu đi vào mùa (thực ra là cũng chả nhớ mùa gì, thôi để abc vậy) abc thì có thể thoang thoảng (thựk ra ngào ngạt quá, điếc cả mũi, ghét nhất những hương vị nồng nặc) của hoa sữa (chắc vậy, chả bao giờ quan tâm) nhưng hôm nay thì tịnh nhiên không có (thật là may). Nhanh quá, qua KS Melia rồi. Đi thẳng. Gặp ngã tư. Quýêt định rẽ Quán Sứ về phía Cung hữu nghị. Lại thấy lành lạnh. Gặp một tốp cả nam và nữ nhưng không rõ có phải nam thanh nữ tú không vì như đã nói rồi đấy, mặt tớ tầm nhìn xa không quá 5m, anh vàng của đèn đường chỉ làm nổi bật màu tóc và màu quần áo là lượt. Ngoài ra cũgn có một lý do khác. Chán ngán những âm thanh vui vẽ và trẻ khoẻ xuất phát từ phía đó. Rẽ phải vào đường phố Trần Bình Trọng. Đây cũng là một con đường ưa thích, đường to và vắng người. Nhưng tất cả không thể sánh được khi rẽ trái vào đường phố Trần Quốc Toản. Đường bé nhỏ và (cực) vắng , biệt thự xinh xắn, công sở hình khối và xấu, da hơi gợn vì những luồng chuyển động của không khí, thời gian như im ắng và mọi vật dường mờ ảo. Thích thú thưởng thức. Nhưng cũng giống như mọi niềm vui và bao phù hoa khác, tất cả đến rồi đi nhanh nhẹn chỉ trong một cái vặn tay ga dù thật chậm, thật chậm. Mỗi cảm giác quen thuộc là thường trực và đánh vật với thời gian, thật đặc biệt. Lại đến Bà Triệu. Chán ngán. Đông đúc. Bẩn thỉu. Đạo đức giả. Những câu chửi thề. Ám ảnh. Những ánh chớp. Tiếng xe phanh gấp và ép côn rền rĩ. Thở dài. Rẽ trái ra đường phố Nguyễn Du. Tiếp tục tới đường phố Lê Văn Hưu và loằng ngoằng vài cái rẽ nữa thì về tới nhà...

...chat với em và đọc blog của em. Cảm giác không thoải mái. Hình như buồn là một thứ virus có thể lan toả từ PC này tới PC khác bằng 1 hệ thống cable loằng ngoằng chìm đắm trong lòng đất, lổm ngổm trên vỉa hè và đu đưa trên cột điện ngoài ngõ thì phải. Không rõ lắm.

Có lẽ đi ngủ sớm sau khi viết những dòng cuối cùng...

Friday October 6, 2006 - 11:51pm

Bâng quơ chút chút, vừa chat vừa chơi (Time)


Đêm

mà em viết là khi cái không sáng rã rượi mệt nhoài ngã đứng ngã ngồi lên từng nóc nhà từng cửa sổ từng lá cây bạc phếch nỗi đau thì dường như mọi vật khoác lên nó một bộ mặt (mà anh thì gọi nó là mặt nạ) chân thật hơn, vứt bỏ đi những hình dạng cũ mèm muôn thủa như tự bao đời chẳng thể đổi khác & anh (em?) lại lao vào cô đơn & nỗi buồn cố tri. Sài Gòn chắc cũng lạnh em nhỉ?

Thời gian

em viết khi anh nói anh buồn, anh điên lên & rằng anh không biết chính anh đang sống hạnh phúc, & anh sợ hãi cảm giác êm đềm theo anh suốt một ngày chợt phũ phàng đánh rơi, uh em ạ, đúng là nó rồi đấy, anh bàng hoàng không tin tình cảm lại có thể vô tình đến thế, nó vụt bay khi hơi ấm còn lan toả trong từng nỗi nhớ, cái chạm tay. & anh bắt đầu nghĩ thế nào là hạnh phúc?

Entry blog

uh anh xin lỗi khi anh comment những dòng vô cảm vào lòng em bởi (đổ tại mày đó, em trai) cái theme (cũ chứ không phải theme mới) của mày làm anh đau hết cả mắt, liếc liếc như dao cau liếc đá, như chó táp vào má những mớ chữ lổm ngổm dằn vặt điên loạn hoà trộn màu đen của buồn & màu xám xịt của điên loạn & những khối lập thể đặc trưng của bóng tối. & anh (có thể trâng tráo) nhận ra sự vô tâm & lãnh cảm của mình.

Tưởng tượng

nhưng em ơi nỗi buồn đó, nỗi đau mà anh cứ phóng đại lên là thế kỷ ý (& em từng than rằng giá ta có no headz có phải tốt không,uh nhưng như thế thì anh là hoa lá cỏ cây gỗ đá mất rồi, mà không phải cây cỏ hoang dại cũng còn biết xấu hổ rụt rè khi hơi người sầm sập phả & gỗ đá cũng còn biết chảy mồ hôi & co ngót nữa khi giao mùa ư?) nhiều khi anh tự hỏi phải chăng ta đang cố mà ép mình phải gắng gượng mà tưởng tượng ra & dằn vặt mình trong nỗi đau mơ màng & xa xăm đó. (Suy nghĩ chủ quan, anh vô tâm nên hay áp đặt, em hiểu anh nhưng nhiều khi anh không hiểu em & không hiểu nổi chính mình). Sài Gòn còn lạnh không em?

Thiên địa vô nhân dĩ vạn vật vi sô cẩu

uh đọc cũng in ít mấy cái câu kiểu này mà thực sự chưa bao giờ thấy tâm đắc với nó đến thế em nhỉ? Nếu không phải do Tru Tiên thì cũng đã từng đọc trên Tiền vệ (Avant-Garde), uh, câu này đúng quá nhưng anh chưa từng biết ai có thể lạnh lùng và tàn nhẫn dẫm lên những giọt nước mắt nóng ấm và nụ cười mê hoặc trái tim vỡ vụn do có người vô tình mà bóp nát đâu em. Các cụ ngày xưa nói thì thánh thật nhưng mà toàn lý thuyết suông, con cháu mà cứ chăm chăm chạy theo thì có ngày vỡ cả mộng đẹp mà trở thành một Chí Phèo hay một AQ đấy. Khổ lắm khi nỗi buồn & cô đơn ám ảnh.

(Lại) Thời gian

là vĩnh hằng & vô tận (thực ra sách Triết Mác nó viết là vĩnh cửu & blah blah gì đó anh đek nhớ), nó trải dài trong suốt cõi mênh mang cùng sự tồn tại của trời đất & huyền bí như cái lỗ đen vũ trụ vậy. Anh nhớ những đêm ta cãi nhau (tranh luận chứ nhỉ) xem giữa Cổ Long v.s Kim Dung tiên sinh, ai mới thật sự cuốn rũ lòng người. Hì hì, luận kiếm đến 3 ngày mà rốt cuộc chỉ chốt bằng một câu "đợi anh đọc lại sẽ bình tiếp", nhạt nhẽo thế em nhỉ?.

Hiện tại

tao v.s mày cứ thế đek nào đó, em tiếp tục mải mê với những thứ triết lý mệt nhoài người, sầu khổ đầu óc, & còn gì nữa nhỉ, hết Troy rồi lại cung Hoàng đạo, hix, em ơi, cái đó chỉ là tham khảo thôi,ai cũng giống ai thì đâu thành xã hội (chó má & đểu giả & thối nát & còn nhiều người tốt), mà chắc anh lo thừa, anh biết em đủ suy nghĩ để hiểu điều đó mà phải không, nhưng vẫn cố với vát (cho ra dáng một thằng anh) đừng để nỗi buồn ám ảnh em nhé, không đáng đâu (nói như đúng rồi em nhỉ bởi anh cũng đâu có ngoại lệ hị hị).

H(ậu h)iện tại

cứ lẳng lơ như thế, lúc vui lúc buồn, nhưng quan trọng nhất là không còn bị hoang tưởng & ám ảnh nhiều như trước nhưng lại trầm trọng hơn cái ảo tưởng thời gian, muốn thở dài & ao ước mùa đông đến mau để ta có cảm giác mình được thở & được yêu.

Kết thúc một ngày ngắn ngủi chỉ có ngủ, ăn, tán phét, đi làm & Nhớ.

Wednesday October 4, 2006 - 03:25am

Rỗi việc (Time)


hay không sự ám ảnh làm tôi thao thức trong những đêm chẳng thể cảm nhận được hơi thở của chính bản thân của chính nỗi đau luôn luôn thường trực mặc dù ta luôn cười cợt và chế nhạo cái thói tự cao tự đại luôn coi cái tôi của bản thân lên trước nhất hoặc luôn luôn giả dối cho rằng ta cô đơn giữa đám đông giữa tiếng cười nói hả hê giữa những giọt rượu cay nồng đang tràn trề trên bàn nhậu giữa những bờ vai lả lơi và tiếng hát thật hay nhưng sao mà kịch kỡm và buồn cười nhất là luôn luôn cho rằng ta thống khổ và đắng cay ta đang trải qua một hoặc hằng hà sa số nỗi buồn thế kỷ (của đâu ra mà lắm thế nhỉ ừ công nhận buồn thì có nhiều thật nhưng em thì cố công khuyên giải mà ta thì luôn nhủ gắng mà sống gắng mà làm người người gì cũng được miễn là có được chữ người đấy)

Không

thể nghĩ rằng ta thật sự cảm nhận được nỗi buồn nỗi buồn tràn ngập trong những gì ta viết những gì ta suy nghĩ ta ý thức được cảm nhận qua xúc giác và tâm linh hình như không đủ hình hài lay lắt qua những góc phố vắng lặng chỉ còn mùi hoa (không rõ có phải hoa sữa hay không vì ta dốt môn sinh vật và cũng chẳng bao giờ quan tâm tới nó luôn vì thực tế luôn thấy nó là phù phiếm và chẳng mang lại nỗi buồn sầu thảm hay thế kỷ nào) và bụi (thật lạ là tôi luôn cảm nhận được hạt bụi những hạt bụi lơ lửng trong không gian trông như những tinh tú đang hoan ca trong vũ trụ nhưng lại chỉ xuất hiện dưới ánh đèn đường vàng vàng nhàn nhạt hoặc những sợi bụi mong manh tràn trề trên thân cây và những kẽ lá những mái nhà ven đường và làm bạc tóc tôi bạc con đường quen thuộc bạc những mái tóc vàng đỏ dựng đứng hoặc mềm oặt trên những khuôn mặt xinh xắn như búp bê nhưng đôi mắt sao buồn nhưng ánh lên những tia nhìn dã man và lạc loài đến thế).

phải chăng ta tự lừa dối mình vì ta chưa bao giờ tìm được mục đích sống mục đích tồn tại nhỉ uh em nói chết không dễ nhưng làm người càng không dễ uh đúng quá tôi không rõ em đã trải qua thực tế chưa nhưng sách vở nhiều khi nói cũng đúng mà thực tế lại càng đúng và nghiệt ngã (hehe nói cứ như đúng rồi ý khi mà bàn thân ta mồm cứ xoen xoét quan trọng gì những thứ phù hoa trong khi bản thân lại đang thở đang viết ra và đang sống xênh xang trên những con đường trải dài đầy hoa ấy mà hoa gì chẳng được dù nó có gai hay không có gai thì vẫn cứ phải đi thôi mà) nhưng nghiệt ngã gì thì nghiệt ngã ta vẫn thấy nghiệt ngã nhất là khi cái ông già mãi không chết Lão Tử thở ra một câu thối không chịu được là Thiên địa vô nhân dĩ vạn vật vi sô cẩu - dịch Nôm nhé nó có nghĩa là Trời đất không có tính người nên coi mọi (người + linh hồn) vật (thực vật + động vật) như chó rơm - hehehe buồn cười đến đến chảy cả nước mắt mà đau lòng thừa nhận để đạt được cảnh giới này thì có mà đến ngay chính ông Lão cũng còn mơ mới tới level cao ngất cao ngưởng này nhá (cái câu đấy ấy mà nếu có áp vào bất cứ ông thần ông thánh hay ném thẳng vào mặt của Jesus Christ hay như ông Muhamed - Pro(bốc)phetian của Thánh Alah đi cũng chẳng thể lấy ra làm ví dụ minh hoạ được bởi các ông này cũng do con người nhào nặn và tin vào cái mình nhào nặn và thổi cho nó một linh hồn bất diệt và ám ảnh cưỡng hiếp thời gian ah không có chăng chỉ có ông Phật Tổ là gần gần mon men tới cái cảnh giới alien đó nhưng cũng không phải là ngoại lệ gì đâu mà vênh vang cười ngờ nghệch.

Không

hiểu tại sáo những điều không được làm mà các bố ngày xưa lẫn ngày nay nói sao mà nhiều đến thế nào là không trộm cắp không bài bạc không rượu không chè (trà mạn ngon thế sao các bố cứ ghép rượu với chè thế nhỉ để thức đồ uống ngon lành thế cứ bị hàm oan như cô Cám ý) không thuốc lá (hút thuốc có hại cho sức khoẻ và nhất là những người hút thuốc lá thụ đông em nhắc ta như thế mà uh ta nhớ rồi quên thế nào được nhỉ) hì hì ờ mà nói đến không tiếp chứ lạc đề lạc đề chả hiểu sao cứ nhắc tới em là ta lại luống cuống và type loạn xạ (đã chỉnh sửa rồi đấy các cụ ạ) mà cũng lạ là cứ nhắc tới là lại muốn nhắc tiếp ặc ặc ặc lan man quá lan man quá uh không tiếp nhé không nói dối (đố thằng nào con nào trên đời chưa bao giờ nói dối hay nói cách khác bằng mỹ từ là chưa nói thật hố hố) không luồn cúi bợ đít thằng to hơn mình uh ai cũng thế cả thôi kể cả nhiều người mình quý trọng thực sự cả về nhân cách lẫn tính cách (chuyện qua sông phải luỵ đò mà hì hì bắt chước em chẹp chẹp hai cái cho nó phải phép nào) ờ mà đúng là chuyện quan trọng thứ nhì mà không thể không nhắc đến là ta không thể không nói là ta yêu em hì hì đọc đoạn này chắc em cứ tưởng như là ta đang flirt ý nhỉ nhưng sự thực thì không phải thế bởi thực sự lúc này là ta quên sạch những điều muốn viết mất rồi mà chỉ đang nghĩ về em và muốn đem phơi tình cảm của ta cho nó bớt ứot át đi (đại khái lại bắt chước thơ em mất rồi hì hì yêu thế) sau khi đọc thơ về nỗi buồn chia ly của anh yêu mà em nói là buồn lắm khi còn đang yêu mà chấp nhận chia tay oh sao lại phải thế nhỉ nếu như khi chưa (chẳng) có một lý do nào thực sự khiến những con chim ríu rỉt yêu nhau mỗi ngày phải chia lìa đôi ngả ờ mà chắc do ta chẳng phải là anh yêu nên đek biết được cả hai nghĩ gì nữa nên chỉ phán xét lăng nhăng (mà em gọi là ngây ngô ý uh nghĩ lại ngây ngô thật nhỉ) ặc ặc ặc hix đấy cứ mải nhắc tới tình yêu làm ta suýt quên mất điều quan trọng nhất không nói nôt điều quan trọng nhất đối với ta với em với rất nhiều người khác nữa (dù biết mặt hay chưa biết mặt dù nhận ra hay sắp nhận ra) thì đó chính là không bao giờ nói không hoặc ngoảnh mặt với gia đình với bố với mẹ mà tốt nhất là với cả hai dù rằng ta chẳng hợp với bất kỳ ai. (khắc khẩu)

Có (ta muốn viết những vần thơ thật đẹp)

hoặc (nhưng buồn lắm thơ cứ mãi trốn ta)

Không (mà cuối cùng thì thơ hay là gì nhỉ)

hoặc không có (phải chăng là tuyết nguyệt với phong hoa )

hoặc có không (không không thơ đâu chỉ cần có thế)

tất nhiên là cả có và cả không (mà cần mình trải lòng với nhân gian - ô trọc và điêu tàn lắm)

Đêm nay mượn u uất (hì hì lại giả tạo rồi đấy) như các cụ xưa thường mượn rượu để chửi (yêu) nhau có vài dòng (ngắn ngủi) nhắn gửi tới những ai thực sự muốn hiểu những gì ta muốn nói (ngu ngốc ngớ ngẩn vớ vẩn tầm phào nhạt nhẽo trẻ con).

Tuesday October 3, 2006 - 03:51am

Chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại (Time)


Dạo này buồn tình quá, post tạm một số thông tin về tình yêu mới của tớ nhé:

CHỦ NGHĨA HIỆN ĐẠI sau đó là HẬU HIỆN ĐẠI qua một số nhận định của GS. Hoàng Ngọc Hiến:

.....
"Ở ta, những năm gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu về chủ nghĩa hậu hiện đại. Thực ra để hiểu lý luận văn học, lý thuyết văn hoá phương Tây thế kỷ XX cần bắt đầu bằng việc nghiên cứu chủ nghĩa hiện đại, một trào lưu văn hóa, nghệ thuật rộng lớn coi như xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX, phát triển ào ạt, mạnh mẽ trong vài ba thập kỷ đầu thế kỷ XX, đến những năm 30 thì bắt đầu suy kiệt. Tiếng vậy, từ đó đến nay, trong suốt thế kỷ XX, phương Tây vẫn tiêu dùng vốn trí tuệ của chủ nghĩa hiện đại. Trào lưu này bao gồm nhiều khuynh hướng và trường phái văn học nghệ thuật lớn: Tượng trưng, Ấn tượng, Suy đồi…, Lập thể, Vị lai, Kiến tạo (constructivisme)…, Biểu hiện, Ðađa, Siêu thực… Ðánh giá như thế nào đây những thành tựu cách tân những trường phái lừng lẫy nói trên của chủ nghĩa hiện đại? Trước tiên chúng tôi căn cứ vào một ý kiến của nhà thơ Pháp Paul Valéry (1871-1945): “…tất cả những sự cách tân này cần thiết cho sau đó một chủ nghĩa cổ điển mới có thể xuất hiện…” Valéry là một thi tài lớn được hình thành từ nhóm thơ của nhà thơ tượng trưng Mallarmé (đồng thời cũng là một trí tuệ lớn của nước Pháp, ông đã từng giảng bài ở Collège de France), ông là chủ soái của trường phái “thơ trí tuệ”, chủ trương cụ thể hoá những tư tưởng trừu tượng bằng hình ảnh và tiết tấu tinh tế. Ông không từ bỏ những cách tân của chủ nghĩa hiện đại, ông thấy chúng là “cần thiết”, tuy nhiên, ông tỏ ra dè dặt về tiền đồ của chủ nghĩa hiện đại, hướng về tương lai, ông nhìn thấy (hoặc muốn nhìn thấy) một xu hướng phát triển Nghệ thuật khác, một viễn cảnh hoàn toàn khác mà ông đặt tên là “chủ nghĩa cổ điển mới”. Wallace Stevens (1879-1955), một trong những tác giả hàng đầu của thơ ca Mỹ và thế giới còn tỏ ra dè dặt hơn nhiều trong sự đánh giá chủ nghĩa hiện đại: “Chúng ta không nên tiêu phí thì giờ để làm hiện đại, còn bao nhiêu việc quan trọng hơn chúng ta phải làm”. Nhà văn Arhentina J. L. Borges (1899-1986) là một tác giả lỗi lạc của văn học Mỹ la-tinh và văn học thế giới. Thăng trầm của những trào lưu nghệ thuật cách tân giống như thuỷ triều lên xuống, thời trẻ, sống giữa những đợt sóng chủ nghĩa hiện đại, Borges khó mà thoát ra ảnh hưởng của chúng. Văn nghiệp của ông bắt đầu bằng những thể nghiệm táo bạo theo tinh thần Tiền phong của chủ nghĩa biểu hiện. Một điều khá bất ngờ là cuối cùng, Borges đâm ra chán và thất vọng với những mới mẻ về nội dung, những cách tân về nghệ thuật của những nhà thơ, nhà văn ít nhiều có họ hàng với chủ nghĩa hiện đại mà ông đã từng ngưỡng mộ thời trẻ. Ông vốn là một người hâm mộ Baudelaire, người báo trước chủ nghĩa hiện đại trong thơ, tập thơ Ác hoa (Les Fleurs du Mal) ông có thể trích dẫn liên hồi vô tận. Ðối với tập Ác hoa, đến lúc ông thoát ra được, giữ được khoảng cách thì ông thấy tác phẩm này làm ông khó chịu, có cái gì đó không ổn về mặt đạo đức, tác giả quá ưu tư đến thân phận cá nhân của mình, quá quan tâm đến những hạnh phúc và bất hạnh riêng của mình. Mà muốn sống thanh thản thì tốt nhất là phiên phiến, nghĩ ngợi càng ít càng tốt những gì xẩy đến với cuộc đời cá nhân mình. Ðọc Ác hoa độc giả dễ bắt chước nhân vật trữ tình của tập thơ, tự xem mình là một nhân vật thống thiết, phẫn thán (personnage pathétique). Mà “sống trên đời này tốt nhất là đóng vai nhân vật phụ (ý của Pythagore), làm nhân vật thống thiết thì mệt lắm”. Có thời Borges tưởng rằng Dostoievski là tiểu thuyết gia độc nhất vô song và ông đã đọc đi đọc lại nhiều lần Tội ác và trừng phạtNhững người bị quỷ ám, chúng ta đều biết cách tân nổi tiếng của Dostoievski là đưa đa thanh vào tiểu thuyết, một thủ pháp đặc sắc của văn xuôi chủ nghĩa hiện đại. Ðọc những tác phẩm của Dostoievski, dần dà ông nhận thấy rất khó phân biệt nhân vật này với nhân vật khác, tất cả đều giống Dostoievski một cách lôm nhôm và các nhân vật dường như thích thú với sự bất hạnh của họ. Thế là ông không đọc Dos nữa và theo lời ông, sức sáng tạo của ông “chẳng vì sự thiếu vắng này mà giảm sút”. Borges đã từng đánh giá cao những cách tân của Proust, Faulkner trong văn xuôi, phong cách “dòng ý thức” và những thủ thuật tự sự mới mẻ của họ… Nhưng theo ông, “dần dà thì những thủ thuật này người ta cũng chán và chúng ta sẽ quay trở về với cách kể truyện thông thường trong Ðôn Kihôtê: “Trong một ngôi làng bên bờ biển Manche mà tôi không muốn gợi nhớ lại tên ...”. Quay trở về cách kể truyện thông thường trong Ðôn Kihôtê tức là quay trở về cách tự sự cổ điển, quay trở về chủ nghĩa cổ điển. Kinh nghiệm chủ nghĩa hiện đại của Borges là một bài học lớn về sự tiếp nhận nghệ thuật cách tân: nên có sự thông cảm với sự cuồng nhiệt điên rồ của những “fan” hâm mộ nghệ thuật cách tân.

Wallace Stevens ví hành trình của những nghệ sĩ Tiên phong (hoặc Tiền vệ) của chủ nghĩa hiện đại những thập kỷ đầu thế kỷ XX như những cuộc phiêu lưu của những nhà thám hiểm núi lửa, họ đã đến núi lửa, “đã gửi về tấm bưu ảnh cuối cùng” và lúc này không có ước vọng gì hơn là trở về nhà. Nhà văn Ðức Hermann Hesse sau một thời gian đắm đuối với chủ nghĩa tượng trưng, với phân tâm học, với chủ nghĩa thần bí phương Ðông, qua truyện ngụ ngôn Sói thảo nguyên, cũng nói đến tình cảm “nhớ nhà”: “Chúng ta còn vấp ngã lặn lội qua bao rác rưởi và xảo trá trước khi về đến nhà. Và chúng ta chẳng có ai dẫn đường. Người duy nhất hướng dẫn chúng ta là nỗi nhớ nhà.”

Cái “chủ nghĩa cổ điển mới” mà Paul Valéry ước vọng như một viễn cảnh cho sự phát triển của nghệ thuật trong tương lai, một viễn cảnh để tích hợp những thủ pháp cách tân sáng giá của chủ nghĩa hiện đại thì ngày nay đã trở thành một trào lưu văn học nghệ thuật đương phát triển mạnh mẽ ở Mỹ. Trào lưu thực tại này có “những đại diện kiệt xuất của toàn thể phong trào”, “hội tụ những phát triển song song trong kiến trúc, âm nhạc, điêu khắc, thi ca, quy hoạch đô thị…”, nó thâm nhập vào giới hàn lâm, đặc biệt trong những lớp viết văn, nó có những tạp chí, những trạm trên mạng, những quán cà phê cổ điển mới cho toàn cầu, “nơi đó các hoạ sĩ đủ loại có thể tìm ra nhau,… tranh luận, hợp tác, và chuẩn bị triển lãm, hội thảo và trình diễn”,nó có những khách sảnh cho công chúng có thể tới để tìm những gì là tinh hoa nhất trong các tác phẩm mới…” Trong khi cảnh tượng nghệ thuật đương đại đầy rẫy những “cái xấu”, cái “hỗn mang về đạo đức”, cái “ngu ngốc trí tuệ tội nghiệp” thì toàn phong trào chủ nghĩa cổ điển mới là “nỗi mong muốn quay trở về với lý tưởng của cái đẹp”, cái đẹp không tách rời cái đẹp đạo đức và cái đẹp trí tuệ. “Cái đẹp không chỉ là một khía cạnh được lựa chọn của nghệ thuật: nó là một đối tượng, một ý hướng của nghệ thuật”, “cái đẹp không chỉ thuần là một quy ước mà cái đẹp là một khả năng và một nhu cầu cơ bản của con người”.

Trong bài này trọng điểm là bàn về chủ nghĩa hiện đại. Chủ nghĩa hậu hiện đại hình thành từ những năm 60 thế kỷ trước mặt nào đó tiếp tục chủ nghĩa hiện đại, do đó nó được xem như là “tái bút” của chủ nghĩa hiện đại (giới nghiên cứu văn học ở ta quan tâm đến đoạn tái bút hơn là chính bức thư). Mặt khác, nó xa rời chủ nghĩa hiện đại, nó trở về với những thành tựu lý thuyết, thi pháp và nghệ thuật của thế kỷ XIX (chủ nghĩa lãng mạn), thế kỷ XVIII (phong trào Khai sáng)… và cả những thành tựu của thời kỳ Phục hưng nữa. Như vậy chủ nghĩa hậu hiện đại ôm đồm nhiều thứ quá, nó lại có tham vọng thống hợp (synchrétiser) tất cả lại. Chủ nghĩa hậu hiện đại khá dồi dào về mặt sản xuất lý thuyết, tuy nhiên, hiệu quả rõ rệt nhất của nó là lật tẩy những sự trịnh trọng lố bịch và những ngạo ngược vô lối của học thuật hàn lâm (hay đại học).

Tôi xin phép kết thúc bài này bằng những ý kiến của Simon Leys, một nhà văn và một học giả lớn, phát biểu trong đợt tổng kết một cuộc tranh cãi kéo dài trong giới đại học và hàn lâm ở Úc về ích dụng và mục đích của lý luận văn học hàn lâm (cũng xin nói trước tác giả có những quan niệm cực đoan, nhưng đây là sự cực đoan “có gu”, “có duyên” của một người có trình độ văn hoá cao):

Những nhà phê bình và những nhà nghiên cứu văn học chẳng qua chỉ là những người chỉ chỗ ngồi (usher) trong chốn văn chương. Trong phòng hoà nhạc, trong rạp hát và rạp ôpêra, những người chỉ chỗ ngồi đưa chúng ta tới đúng ghế ngồi, thế là họ làm trọn vai trò của họ, một vai trò khiêm nhường nhưng có ích.

Phê bình văn học (hoặc lý luận văn học) chỉ có giá trị lâu dài và đáng đựơc tiếp nhận một cách nghiêm túc khi nó được sản sinh bởi những nhà văn sáng tạo văn chương (creative writer) và khi bản thân nó là một tác phẩm nghệ thuật.

Ðối với chúng ta, những người thầy giáo, những nhà nghiên cứu, những nhà phê bình khiêm nhường, tham vọng cao quý nhất, thành tựu cao cả nhất và niềm tự hào lớn nhất mãi mãi thì vẫn là điều này: gây được ở bạn đọc của chúng ta tình yêu với văn học và làm cho họ phát hiện những cuốn sách hay và đẹp.”

(nguồn: ttvnol)

Một số đặc điểm về văn phong của Chủ nghĩa Hiện đại:

- Ngôn từ cô đọng nhiều ẩn ý hay "ý tại ngôn ngoại" (Kiểu như Hemingway, lối văn của ông được gọi là "viết theo kiểu tảng băng trôi" [3 phần nổi, 7 phần chìm]). Có người gọi văn phong của ông là văn Telex. Nhà thơ Lê Đạt gọi kiểu viết "keo kiệt" về ngôn từ này là "đánh chó đá vãi cứt".
- Sử dụng nhiều tiếng lóng hay những ngữ vựng hay bị kiêng kỵ trước đây như về tôn giáo, sex, bạo lực, chính trị...
- Vay mượn nhiều tiếng nước ngoài. Thậm chí viết nhiều đoạn bằng tiếng nước ngoài mà không hề dịch ra ngôn ngữ gốc.
- Phá bỏ kết cấu câu, cụm từ đã quen thuộc.
- Sử dụng/sáng tạo nhiều từ tượng hình, tượng thanh lạ lùng.
- Do ảnh hưởng mạnh mẽ của S. Freud, CNHĐ đã nổi tiếng với sự sáng tạo ra kiểu viết "Dòng ý thức". Chính J. Joyce trong tiểu thuyết Ullyses No.1 của tk XX đã đưa ra hẳn 1 chương miên man không hề có 1 dấu câu nào, kể cả dấu "chấm" hay dấu "phẩy".
(nguồn: ttvnol)

Một số thủ pháp nghệ thuật thường được sử dụng trong THƠ HẬU HIỆN ĐẠI:

- Giễu nhại (parody)
- Nhại văn (patische)
- Cóp phỏng (imitation)
- Biếm mỉa (irony)
- Báng nhạo (rediculing)
- Trích dẫn (quotation)
- Cưỡng đoạt (appropriation)
- Đạo văn (plagiarism)
.....

Hắc Hải Đế truyền kỳ (Time)


Phi lộ

Tiểu sinh vốn người Kinh Bắc, tài hoa vang dội trời Nam, lại làu thông kinh sử, thêm sẵn bản tính lang thang, thường lững thững hóng mát tienve viên trang, phi ngựa rầm rầm đất cathy/thanglong, thật muôn phần hảo sảng, vỗ ngực tự thán mà rằng: “Đời cũng chỉ có thế mà thôi”. Bỗng ngày nọ nghe chân đập tim rung, biết tinh hoa phát tiết đã đến mức cực điểm, lại nghĩ trăm năm bia đá cũng mòn, trăm năm bia miệng vào rồi lại ra, thói thường là giống cao nhân thế ngoại, bước chân đi mây phủ mịt mùng, thần long kiến vỹ bất kiến hình, chẳng nhẽ không lưu lại hậu thế chút hư danh. Vả chăng có một hảo hữu hiền đệ, không quản gió táp mưa sa thì thầm tình tự, ái ân đến đoạn mặn nồng mà thốt: “Đợi bài tự sướng của anh sao lâu quá vậy?”(1). Nhân hôm nay tửu hứng tràn đầy, ý thơ man mác, bảo tiểu đồng đốt trầm hương thoang thoảng, ôm ki bốt nửa đêm mà viết nên thiên tuỵêt tác này. (Mạn phép các cụ tiền bối, con tự biết tài con so với các cụ, không kẻ tám lạng thì cũng người nửa (cục) phân, nay tranh đoạt tài năng với giời đất mà làm áng văn chương tuyệt thế, thật rạng danh cho bản môn ta lắm, xã tắc may lắm, thiên hạ may lắm)

Nay mời hảo hữu, huynh đệ bốn phương, thân bằng cố hữu xa gần tề tựu nhã giám, nhã giám!!! (Nếu các vị thấy chỗ nào cao siêu, khó hiểu thì hãy tự về bế môn 3 năm, nếu chưa đủ thì luyện thêm 3 năm nữa, khi nào thấy level ngất ngưởng, đọc lại, ắt khám phá được chỗ xảo diệu, đạo hạnh chắc chắn tăng tiến không biết đâu mà kể).

Hắc Hải Đế truyền kỳ

Bính Tuất niên, In tơ nét quốc, nhà nhà phú quý, người người lễ nghĩa, nam thanh nữ tú ăn tục nói phét dạo bước khắp Tô, Hàng. (2)

Ở đất Thần kinh, có một vị tiên sinh, vốn tục danh là Hải, được bằng hữu yêu mến mà xưng tụng Hắc Hải (hoặc Hai Danny, Hai deptrai, Hai ngoanhien, Hai itnoi, Hai soMot...) (3). Tương truyền, lúc thân mẫu mãn nguyệt khai hoa, hồng quang rực rỡ tán quang khắp vùng, có bậc chân tu tìm đến, thở dài mà rằng: “Người này sinh ra nếu không tài năng cực đỉnh thì ắt cuồng điên cực đỉnh”. Nói xong thì biến mất. Ấy chính là Thiên bồng nguyên soái, nhân dịp về Cao lão trang (4) thăm lão nhạc, lão mẫu, thấy thần quang chói loà khắp chốn, biết có kỳ tài giáng thế nên tìm đến mà xu nịnh vậy. Hải lên một tuổi đã biết lẫy, lên hai đã biết nói: “Em đẹp lắm” (5), thật có cái tài mà đàn ông phải ghen tỵ, có cái duyên mà đàn bà phải thèm muốn. Đến tuổi Hải đến trường, dăm bữa nửa tháng thầy giáo cô giáo đã cạn sạch vốn liếng, ganh ghét mà đuổi cổ về nhà tự học. Chẳng bao lâu thì Tứ thư ngũ kinh, bốc dịch bói toán, nửa đêm ngắm sao, nửa ngày ngắm lá, thập bát ban võ nghệ, binh khí phổ nằm lòng, thịt uống chén lớn, rượu thái miếng to, trên trời không môn nào là giỏi, dưới đất không thuật nào là tinh, lại thường rong chơi, uống rượu, trêu gái với F.Nietzsche, bàn thuyết “Con người siêu nhiên”, tự thấy chí lý, cứ như là ông bạn vong niên nhìn Hải mà viết ra vậy. Lại câu “Nữ thập tam nam thập lục”, tài năng nở rộ đến lúc đỉnh cao, Phan An Tống Ngọc ngang qua nhìn trộm vội về nhà rạch mắt, đóng cửa ru rú không dám đi đâu, Lý Bạch Khuất Nguyên đọc thơ mà bẻ chuột quăng ki bốt thề không viết lách nữa. Thường lúc bát phố láo nháo, đàn đàn hồng y, hoàng y, lục y, hắc y, bạch y thậm chí là không-có-gì-y thiếu nữ, mà đâu có hết, lũ lũ các anh em giai cao to khoẻ mạnh, đen như E’to, xoăn như Ronaldinho, nam tính như Mourinho, cứ nườm nượp đi ra đi vô, rút ra rút vô mà khêu gợi, mời chào. Thật đến trời đất cũng phải tị hiềm tài năng kém cỏi, nhân gian tôn sùng ngang Thần Nông, Hoàng Đế, Bồ Đề Sư Tổ, Hê-xút Crai (6) vậy.

Rong chơi trên Nét quốc vài năm, Hải nhận thấy nhân gian loạn lạc, lòng người ly tán, người và vật thật giả lẫn lộn, lòng mề đau như cắt, nước mắt nước mũi ròng ròng, nửa đêm thường gõ lai-tờ, đập vào ki bốt đến nháng lửa mà than: “Tài cao, phận thấp, chí khí uất/Giang hồ mê chơi quên tình nương” (7). Thật muôn phẩn cảm khái, ăn không biết ngon, đã xơi 3 bát mà hỏi đã ăn bát ba chưa để chén tiếp, ngủ không thấy sướng, 8 tiếng vàng ngọc mà tự nhủ mới ngủ có tiếng tám, còn 7 tiếng 2 nữa. Nửa đêm thường tỉnh giấc, thở dài một tiếng, rồng trắng (8) từ mũi vọt ra, bay thẳng lên trời, bạch quang chói loà đất Giao Chỉ. Thật phẫn uất đến cùng cực, ắt là do trời đất ghen ghét, quỷ thần thù địch mà ám vậy. Lại nói, một sáng kia, Hải rủ dân Bà la môn xứ Tây Trúc (9) ra ngoài vén quần luyện đạo cho thoáng, đang hồi thập phần gay cấn thì có người ăn mày đi qua. Nhìn dáng tu của Hải đúng thật “Ngoạ long”, “Phượng Sồ” còn phải ngượng thì vội vội vàng vàng chạy đến, bất chấp mọi nguy hiểm dưới đất, khí thiêng ngút trời, hét to: “Đại hoạ đến nơi rồi mà đại nhân vẫn an nhàn luyện công ư?”. Giật mình thảng thốt, rắn bay mất đầu, Hải không kịp kéo quần, bật dậy, chắp tay vái mà thưa: “Thật tam sinh hữu hạnh, mời tiên sinh lên nhà trên, có rượu béo gái ngon tẩy trần”. Rồi không kịp chùi tay, nắm lấy người ăn mày mà rước vào nhà. Rượu ba chén, thịt ba đĩa, mồm mép nhờn bóng, nước bọt tứ tung, hương nếp lá ngào ngạt toả khắp phòng, người ăn mày xoa bụng, kéo Hải vào lòng mà âu yếm, thì thầm, tiết lộ cách chân tu chính đạo. Thật là muôn vàn cảm khái, không biết để đâu cho hết. Xong xuôi, người ăn mày cất bước ra đi, thoắt cái đã mất tích trong khói lam chiều bàng bạc. Thật là bậc kỳ nhân dị sỹ, cao thâm không biết đâu mà lường được. Kể từ đó, Hải bán nhà bán cửa, cho thuê ruộng nương, của cải chia đều cho các tỳ thiếp làm vốn vay nặng lãi (10), lại nhắn nhủ với con cháu rằng: “Phi thương bất phú, nhớ lấy đừng quên”. Rồi từ đó, ôm phần lớn tài sản mà phong vân phiêu bạt. Tương truyền, khi Hải cất bước ra đi cũng để lại cách liên lạc, rằng nếu muốn tìm học thuật chân tu thì cứ thấy ở đâu treo biển “Anh chờ chờ em nơi đây” (11), tức là Hải đang luyện đan ở đó.

Nhưng nhân sinh tương khắc, trong cõi trời đất mênh mang, biết đâu là duyên biết đâu là kiếp, trời thì nắng, mây thì mưa, bốn mùa tuần hoàn. Thật Thiên địa vô nhân dĩ vạn vật vi sô cẩu. Thở dài mà tiếc nuối....

Chú giải

(1) Truyền rằng một đêm trăng thanh gió mát, Hai Nguyen cùng Havatage đàm đạo, có nhắc đến những bài bỉ văn, tự sướng thô tục của Nguyễn Khoa Bảo Nguyên và Inflame hay Darkflame chi đó, thật phàm phu quá, không đáng kể tỷ mỷ tại đây.

(2) Theo như cathy.com/thanglong, tô píc Long tuyển thì Tô, Hàng không phải địa danh bên TQ mà là Tô Tịch phố và tam thập lúc Hàng (họ) phố, cũng là chốn phong tình..

(3) Đã đăng ký tại Cục quản lý thương hiệu VN năm 2006.

(4) Theo Dư địa chí đất Giao Chỉ, NXB Sự thật, năm 2000, trang 666, thì xưa kia, do đất Nam Việt địa thế hiểm trở, cảnh sắc hoang vu nên nhiều tiểu ẩn tự coi mình là bậc đại trí chọn làm nơi tu luyện. Nghe nói, để đến được Cao lão trang xa xôi phải qua Lâm gia trang và Hoàng quốc viện, vốn là chốn phong tình dìu dặt, nay không rõ ở đâu.

(5) Đã đăng ký tại Cục quản lý thương hiệu VN năm 1985.

(6) Phiên âm tiếng Tây Ban Nha ra tiếng An Nam: Jesus Christ.

(7) Truyền rằng, đời sau cũng có một ông kễnh ngông nghênh, có sửa lại bài Cảm thán ca này thành: "Tài cao phận thấp chí khí uất/Giang hồ mê chơi quên quê hương". Thật là phàm tục, giảm đi nhiều phần thi vị. Đáng tiếc thay.

(8) Lại truyền rằng, lúc là bạch long lúc hắc long, lúc to bằng cây cột lúc bé bằng con giun, thật đạo hạnh cao thâm hiếm thấy, hiếm thấy.

(9) Theo Cẩm nang du lịch Ấn Độ năm 2003, trang 636, NXB Thế giới, từ nghìn năm nay, người Tây Trúc thuộc dòng Bà La Môn đẳng cấp cao sáng sáng vẫn rủ nhau ra đường làm công tác vệ sinh, chế tạo "bom bẩn", "bom sinh thái", Tổ chức du lịch thế giới (WTO) có đưa ra khuyến cáo nếu du khách tới Ấn Độ phải hết sức cảnh giác trước các bãi "mìn" lộ thiên, tốt nhất nên mang theo chó từ nước mình sang, chứ chó bản địa cũng không giải quyết nổi vì mũi điếc mà dạ dày cũng không thể tiêu hoả nổi. Nghe các đạo sỹ phẩm trật cao kể lại, nét văn hoá cao sang này là do "Thần Bò" báo mệnh.

(10) Có thuyết cho rằng về sau các tỳ thiếp do mải mê "xoè quạt" nên gia phong lụt bại, hoàn cảnh bần hàn. Song theo Hồ sơ quản lý hộ khẩu của Công an phường Ông 30 năm 2200, con cháu Hải tộc do ghi nhớ mãi lời đại gia gia nhắn nhủ, có thuê người khắc 8 chữ vàng treo giữa chính môn, coi như là bùa hộ mệnh gia tộc. Đến nay, trải qua bảy bảy bốn mươi chín đời vẫn giàu sang phú quý tột bậc, nổi tiếng là 1 business family danh gia vọng tộc lẫy lừng đất Nam Việt.

(11) Theo Thần kinh bí kíp năm xuất bản không rõ, tác giả Vô danh, trang thứ 1984, nếu có dấu đỏ ngang ngang dòng chữ trên thì Hải tiên ông đã đi ngao du mất rồi, chỉ đế lại chứng tích tại đó. Truyền rằng, nơi đâu Hải tiên ông dừng chân, thì hoa thơm bướm lượn, rượu vỡ mạch tự phun trào như dầu hoá thạhc lộ thiên vùng Viễn Đông xa xôi, gà sống tự đắp bùn nhảy vào lửa, lợn gạo tự co rút thành lợn cắp nắp nhảy vào chảo dầu sôi. Thật kỳ diệu thay.

Thursday September 14, 2006 - 12:48am